Che giấu tội phạm là gì? Tội che giấu tội phạm theo quy định Bộ luật Hình sự có khung hình phạt như thế nào?

rong đời sống thường ngày, không ít người rơi vào tình huống khó xử: người thân, bạn bè hoặc người quen vướng vào hành vi phạm tội và tìm đến mình để nhờ giúp đỡ, xin ở nhờ, cất giữ đồ đạc hoặc đề nghị “đừng nói với ai”. Nhiều người vì nể nang, tình cảm hoặc nghĩ đơn giản rằng mình không trực tiếp gây ra tội phạm nên đồng ý hỗ trợ. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật hình sự, những hành vi tưởng như “giúp cho qua chuyện” đó có thể cấu thành tội che giấu tội phạm.

1. Che giấu tội phạm là gì?

Che giấu tội phạm được hiểu là việc một người biết rõ một tội phạm đã được thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện các hành vi nhằm cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội hoặc tang vật, dấu vết của vụ án.

Các hành vi che giấu có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như:

Cất giấu người đang bị truy tìm;

Cất giữ, tiêu hủy hoặc làm thay đổi công cụ, phương tiện, dấu vết liên quan đến vụ án;

Tạo hiện trường giả, cung cấp thông tin sai sự thật để đánh lạc hướng cơ quan chức năng;

Giúp người phạm tội trốn tránh sự phát hiện của cơ quan có thẩm quyền.

Điểm mấu chốt ở đây là yếu tố biết rõ có tội phạm đã xảy ra nhưng vẫn cố tình giúp che đậy.

2. Không phải mọi sự giúp đỡ đều là tội phạm

Pháp luật phân biệt rất rõ giữa:

Giúp đỡ thông thường khi chưa biết người kia phạm tội, và

Cố ý che giấu sau khi đã biết rõ hành vi phạm tội.

Ví dụ, nếu bạn cho một người bạn ngủ nhờ mà hoàn toàn không biết họ vừa thực hiện hành vi phạm pháp, thì bạn không phạm tội. Nhưng nếu sau khi biết rõ người đó đang bị truy tìm vì đã thực hiện tội phạm mà vẫn tiếp tục cất giấu, hỗ trợ trốn tránh thì hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Như vậy, yếu tố “biết rõ” và “cố ý giúp che giấu” là ranh giới quyết định.

3. Trách nhiệm pháp lý có thể rất nghiêm khắc

Tội che giấu tội phạm xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng, làm suy giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, pháp luật quy định chế tài hình sự đối với hành vi này.

Mức độ xử lý phụ thuộc vào tính chất vụ án gốc và mức độ, hậu quả của việc che giấu. Nếu việc che giấu làm người phạm tội trốn thoát trong thời gian dài, gây khó khăn lớn cho công tác điều tra, người che giấu có thể phải chịu hình phạt tù.

Nhiều người chủ quan nghĩ rằng “chỉ cho ở nhờ vài hôm” hoặc “giữ hộ ít đồ” sẽ không sao, nhưng nếu những việc đó nhằm giúp người phạm tội tránh bị phát hiện thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Ngoại lệ đối với quan hệ gia đình

Pháp luật có xem xét yếu tố nhân văn khi trong một số trường hợp, người thân thích gần gũi như ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột… có hành vi che giấu cho nhau thì có thể được loại trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà pháp luật quy định phải xử lý.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người thân luôn “miễn trách nhiệm”. Nếu hành vi che giấu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc thuộc trường hợp pháp luật không cho phép loại trừ, người thực hiện vẫn có thể bị xử lý.

Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ là người nhà thì có thể che giấu tội phạm mà không bị hậu quả pháp lý.

5. Phân biệt với hành vi không tố giác tội phạm

Che giấu tội phạm khác với không tố giác tội phạm.

Không tố giác là biết rõ tội phạm nhưng không báo cho cơ quan có thẩm quyền.

Che giấu là có hành động tích cực nhằm giấu người phạm tội, tang vật hoặc làm sai lệch việc điều tra.

Mức độ nguy hiểm của che giấu thường cao hơn vì có sự can thiệp trực tiếp, làm cản trở hoạt động tư pháp.

6. Ứng xử đúng khi rơi vào tình huống nhạy cảm

Khi biết người quen vừa thực hiện hành vi phạm pháp và tìm đến nhờ che giấu, cách ứng xử an toàn về pháp lý là:

Không tham gia cất giấu người, tài sản hoặc tài liệu liên quan đến vụ án;

Không cung cấp thông tin sai sự thật cho cơ quan chức năng;

Khuyên người đó hợp tác, ra trình diện theo quy định pháp luật.

Việc hỗ trợ về mặt tinh thần, động viên họ đối diện và khắc phục hậu quả là điều có thể làm, nhưng tuyệt đối không nên giúp họ trốn tránh.

7. Vai trò của luật sư trong những tình huống này

Khi bản thân hoặc người thân rơi vào tình huống có nguy cơ bị xem xét về hành vi che giấu tội phạm, việc tìm đến luật sư sớm là rất quan trọng.

Luật sư sẽ giúp đánh giá:

Hành vi cụ thể đã thực hiện có cấu thành tội phạm hay chưa;

Mức độ lỗi và các tình tiết giảm nhẹ có thể được áp dụng;

Hướng xử lý phù hợp để hạn chế tối đa rủi ro pháp lý.

Sự tư vấn kịp thời có thể giúp một người tránh đi từ một hành vi thiếu hiểu biết sang trách nhiệm hình sự nặng nề.

8. Thượng tôn pháp luật là cách bảo vệ chính mình và người thân

Tình cảm là điều đáng quý, nhưng việc bảo vệ người thân không thể đi ngược lại pháp luật. Che giấu tội phạm không giúp vấn đề biến mất, mà thường chỉ làm hậu quả pháp lý lan rộng sang nhiều người khác.

Giải pháp đúng đắn và bền vững nhất vẫn là để vụ việc được xử lý công khai, đúng trình tự pháp luật, đồng thời có luật sư hỗ trợ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người liên quan.

Hiểu đúng quy định về che giấu tội phạm sẽ giúp mỗi người biết dừng lại đúng lúc, tránh vì một phút nể nang hay cảm tính mà phải đối mặt với trách nhiệm hình sự cho chính mình.

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này“.

Đối với hành vi che giấu tội phạm được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự thì có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm, nếu thuộc một trong các Điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121;  Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154; Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178;Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224;Khoản 2 và khoản 3 Điều 243; Các điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259; Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329; Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365; Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386; Các điều 421, 422, 423, 424 và 425.

Trường hợp người phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.